Đây là dòng riêng, khác với Cloud VPS lưu trữ cụm Ceph của TND. Ổ Enterprise U.2 NVMe gắn ngay trên máy chủ, chạy RAID 10, IOPS gấp 5 đến 7 lần ổ SATA SSD. Chip Intel Xeon Platinum xung nền 2.7GHz, turbo 3.7GHz.
Chỉ từ 129.000đ/tháng · Ubuntu, Debian, AlmaLinux, Rocky, CentOS, Windows Server
Thông số phần cứng theo chuẩn nhà sản xuất. Con số thực tế trên máy ảo thấp hơn phần cứng trần, nhưng khoảng cách giữa ba loại ổ vẫn giữ nguyên tỉ lệ.
Phần lớn trang VPS chỉ ghi "Intel Xeon Platinum" rồi dừng ở đó. Nhưng cùng chữ Platinum, một máy chạy 2.1GHz và một máy chạy 2.7GHz cho trải nghiệm rất khác nhau. Tương tự, cùng chữ NVMe nhưng ổ U.2 doanh nghiệp khác hẳn ổ M.2 phổ thông. Đây là những con số TND nói rõ.
| Thành phần | Cấu hình TND công bố | Ý nghĩa với ứng dụng của bạn |
|---|---|---|
| Bậc CPU | Intel Xeon Platinum | Bậc cao nhất trong dòng Xeon Scalable, trên Gold và Silver |
| Số nhân mỗi socket | Nhiều nhân vật lý | Nhiều tiến trình chạy song song không tranh nhau |
| Xung nhịp | 2.7GHz, turbo 3.7GHz | Xung nền cao giúp tác vụ đơn luồng nhanh thấy rõ |
| Cache L3 | Dung lượng lớn | Giảm số lần phải ra RAM lấy dữ liệu |
| Ổ cứng | Enterprise U.2 NVMe | Ổ chuẩn doanh nghiệp, bền hơn NVMe M.2 phổ thông |
| Cấu hình ổ | RAID 10 | Ghép tốc độ và ổ gương, hỏng một ổ vẫn chạy |
| Bàn giao | Trong 5 phút | Máy sẵn sàng dùng ngay sau khi thanh toán |
| Backup | Proxmox Backup Server, hàng tuần | Bản sao nằm ngoài máy chủ chạy dịch vụ |
| Datacenter | Việt Nam | Ping nội địa thấp, không đi vòng qua nước ngoài |
Intel chia Xeon Scalable thành bốn bậc: Bronze, Silver, Gold và Platinum. Bậc càng cao thì số nhân, xung nhịp, dung lượng cache và băng thông bộ nhớ càng lớn. Rất nhiều VPS giá rẻ trên thị trường vẫn chạy Xeon E5 đời 2014 đến 2016, tức là cách con chip này hai thế hệ kiến trúc.
Nhiều chip nhiều nhân đánh đổi bằng xung nhịp thấp, có bản chỉ 2.0GHz đến 2.2GHz. WordPress, Laravel, MySQL đều có những đoạn chạy đơn luồng, và ở đó xung nhịp quyết định trực tiếp thời gian phản hồi.
Số nhân lớn giúp nhiều VPS chạy chung một máy chủ mà không giẫm chân nhau. Khi một khách chạy tác vụ nặng, các khách còn lại vẫn còn nhân trống để dùng.
Cache lớn giữ dữ liệu nóng ngay cạnh CPU. Với database, phần lớn truy vấn lặp lại được phục vụ mà không phải chạm tới RAM hay ổ cứng.
Nhiều người mặc định cứ nhiều nhân là mạnh. Thực tế phần lớn ứng dụng web và database có những đoạn chỉ chạy được trên một nhân duy nhất, và ở đó xung nhịp quyết định trực tiếp thời gian phản hồi. Thêm nhân không làm một truy vấn chạy nhanh hơn, nó chỉ giúp phục vụ được nhiều truy vấn cùng lúc hơn.
| Tác vụ | Quyết định bởi | Vì sao |
|---|---|---|
| PHP: WordPress, Laravel, Magento | Xung nhịp | PHP xử lý mỗi request trên một nhân, xung cao rút ngắn thời gian dựng trang |
| Một truy vấn MySQL hoặc PostgreSQL | Xung nhịp | Mỗi truy vấn chạy trên một luồng, JOIN nhiều bảng hay sắp xếp chỉ nhanh bằng tốc độ một nhân |
| Redis | Xung nhịp | Redis vốn đơn luồng theo thiết kế, số nhân gần như không giúp gì |
| Build và deploy: npm, composer, webpack | Xung nhịp là chính | Nhiều bước trong chuỗi build chạy tuần tự, không chia nhỏ ra nhiều nhân được |
| Bot, game server, ứng dụng nhạy độ trễ | Xung nhịp | Yêu cầu phản hồi từng lệnh nhanh, không phải xử lý khối lượng lớn song song |
| Nhiều người truy cập cùng lúc | Số nhân | Mỗi request chiếm một nhân, hết nhân thì request phải xếp hàng chờ |
| Container và microservices | Số nhân | Nhiều tiến trình độc lập chạy song song, cần nhân trống để không tranh nhau |
| Encode video, nén dữ liệu lớn | Số nhân | Công việc chia nhỏ được, càng nhiều nhân càng nhanh gần như tuyến tính |
Với cùng một khối lượng công việc đơn luồng, chênh lệch xung nhịp phản ánh gần như trực tiếp vào thời gian xử lý. Một trang PHP mất 400ms trên chip 2.1GHz có thể xuống khoảng 310ms trên chip 2.7GHz, chưa tính phần lợi thêm từ cache lớn và kiến trúc mới hơn.
Khi chỉ vài nhân đang bận, chip tự đẩy xung lên tới 3.7GHz. Đây đúng là tình huống của web và database ngoài giờ cao điểm: ít việc song song nhưng vẫn cần trả kết quả nhanh.
Chip TND chọn vừa nhiều nhân vừa giữ xung nền 2.7GHz. Đó là lý do không chọn loại nhiều nhân nhưng xung thấp, cũng không chọn loại xung cao nhưng ít nhân.
Nói công bằng: nếu database chưa đánh chỉ mục đúng thì đổi chip cũng không cứu được. Tối ưu truy vấn trước, rồi mới tính tới phần cứng. TND xem giúp phần này miễn phí trước khi bạn quyết định mua gói nào.
Ổ U.2 là chuẩn ổ NVMe dùng trong máy chủ: tản nhiệt tốt hơn, độ bền ghi cao hơn và có khả năng thay nóng, khác với ổ NVMe M.2 vốn làm cho máy tính cá nhân. RAID 10 ghép hai cơ chế: chia dữ liệu ra nhiều ổ để tăng tốc, đồng thời giữ một ổ gương để không mất dữ liệu khi một ổ hỏng.
Dữ liệu luôn tồn tại trên ít nhất hai ổ. Khi một ổ hỏng, hệ thống vẫn phục vụ và kỹ thuật thay ổ mà không cần dừng máy ảo của bạn.
Khác biệt lớn nhất nằm ở đọc ghi ngẫu nhiên, đúng kiểu truy cập của database. Query chậm vì chờ ổ cứng là vấn đề biến mất đầu tiên khi chuyển sang NVMe.
Ổ Enterprise có định mức ghi mỗi ngày cao hơn nhiều lần và giữ tốc độ ổn định khi chạy tải liên tục, thay vì tụt tốc sau vài phút như ổ phổ thông.
Mỗi tuần hệ thống tự tạo một bản sao toàn bộ máy ảo của bạn và cất sang Proxmox Backup Server, cụm lưu trữ đặt tách rời khỏi máy chủ đang chạy dịch vụ. Bạn không phải cài thêm gì và không phải nhớ lịch. Hai lớp bảo vệ này bổ trợ nhau: RAID 10 lo tình huống ổ cứng hỏng, còn bản sao hàng tuần lo những tình huống RAID không xử lý được như xoá nhầm dữ liệu, cấu hình sai, hoặc đơn giản là cần quay lại trạng thái của tuần trước.
Bạn không phải nhớ, không phải thao tác. Hệ thống tự tạo bản sao theo lịch, ghi log lại từng lần chạy.
Bản sao nằm trên Proxmox Backup Server tách rời khỏi máy chủ đang chạy dịch vụ. Máy chủ có sự cố thì bản sao vẫn nguyên vẹn.
Cần lấy lại dữ liệu thì nhắn kỹ thuật, TND khôi phục từ bản sao gần nhất. Khôi phục được cả máy ảo hoặc chỉ phần dữ liệu bạn cần.
Nói rõ để bạn chọn đúng: chu kỳ mặc định là hàng tuần, nghĩa là bản sao gần nhất có thể cách hiện tại tối đa bảy ngày. Với hệ thống ghi dữ liệu liên tục như sàn thương mại điện tử hay ứng dụng nhiều giao dịch, nên đặt lịch dày hơn để mốc khôi phục sát hiện tại. Nhắn kỹ thuật TND để cấu hình lịch riêng theo mức độ quan trọng của dữ liệu.
Cùng gọi là VPS NVMe nhưng phần cứng bên dưới chênh nhau rất xa. Đây là những điểm nên hỏi bất kỳ nhà cung cấp nào trước khi xuống tiền.
| Câu nên hỏi | VPS giá rẻ phổ biến | VPS NVMe Platinum TND |
|---|---|---|
| Bậc chip là gì | Thường chỉ ghi "Xeon" chung chung | Bậc Platinum, bậc cao nhất dòng Xeon Scalable |
| Xung nhịp bao nhiêu | Hiếm khi công bố | 2.7GHz, turbo 3.7GHz, ghi rõ trên trang |
| Ổ NVMe loại nào | Thường là M.2 tiêu dùng | Enterprise U.2 |
| Có RAID không | Nhiều nơi chạy ổ đơn | RAID 10 |
| Backup ra sao | Ghi chung là "có backup" | Proxmox Backup Server, hàng tuần, hệ thống độc lập |
| Khôi phục thế nào | Thường phải tự lo | Kỹ thuật TND khôi phục theo yêu cầu |
| Có bán quá tài nguyên không | Khó kiểm chứng | Cấp phát theo gói, hỗ trợ kiểm tra thực tế |
| Bao lâu có máy | Tuỳ nơi, có nơi vài giờ | Bàn giao trong 5 phút |
| Đổi ý thì sao | Tuỳ nơi | Hoàn tiền trong 30 ngày |
| Tiêu chí | NVMe PCIe | SATA SSD | HDD |
|---|---|---|---|
| IOPS đọc ngẫu nhiên | 400k đến 700k | 80k đến 100k | 100 đến 200 |
| Đọc tuần tự | 3.500 MB/s | 550 MB/s | 150 MB/s |
| Độ trễ đọc | 20 đến 40 micro giây | 70 đến 100 micro giây | 5 đến 10 mili giây |
| Giao thức | NVMe qua PCIe | AHCI qua SATA | AHCI qua SATA |
| Hợp với | Database, web tải nặng, log, cache | Web thông thường, file tĩnh | Lưu trữ nguội, kho backup |
Nếu ứng dụng của bạn chưa bị nghẽn ở ổ cứng thì nâng lên NVMe không tạo khác biệt lớn. Cách kiểm tra nhanh: chạy top hoặc iostat lúc cao điểm, nếu chỉ số I/O wait cao trong khi CPU và RAM còn dư thì đó chính là lúc nên đổi ổ.
Hai dòng chỉ khác nhau ở một chỗ: cách lưu trữ dữ liệu. Phần chip, mạng, datacenter và cách hỗ trợ đều như nhau, và giá cũng bằng nhau. Chọn theo việc bạn cần an toàn cao hay cần nhanh nhất.
| Tiêu chí | Cloud VPS | VPS NVMe |
|---|---|---|
| Cách lưu trữ | Cụm Ceph, dữ liệu nhân bản qua nhiều máy chủ | Ổ NVMe U.2 gắn ngay trên máy chủ, RAID 10 |
| Điểm mạnh nhất | An toàn, một máy chủ hỏng vẫn chạy tiếp | Độ trễ thấp nhất, IOPS cao nhất |
| Đánh đổi | Lưu trữ đi qua mạng nên độ trễ cao hơn | Phụ thuộc một máy chủ, bù lại bằng RAID 10 và backup |
| Hợp với | Web thông thường, hệ thống cần chạy liên tục | Database nặng, web tải cao, build và CI, AI agent |
| Giá | Như nhau | Như nhau |
Nói ngắn gọn: nếu điều bạn sợ nhất là gián đoạn dịch vụ thì chọn Cloud VPS. Nếu điều bạn khó chịu nhất là chậm thì chọn dòng NVMe trên trang này. Không chắc thì nhắn Zalo mô tả hệ thống, TND nói thẳng dòng nào hợp hơn.
Tám gói dòng NVMe, cùng thang giá với Cloud VPS nhưng máy được giao trên máy chủ ổ NVMe cục bộ. Tất cả đều chạy chip Intel Xeon Platinum xung cao, ổ Enterprise U.2 NVMe RAID 10, backup hàng tuần và bàn giao trong 5 phút. Chưa rõ chọn gói nào thì nhắn Zalo mô tả ứng dụng, TND tư vấn đúng nhu cầu thay vì bán gói to nhất.
| Gói | CPU | RAM | Ổ NVMe U.2 | Băng thông | Giá/tháng | |
|---|---|---|---|---|---|---|
| VPS NVMe 20Cơ bản | 1 vCPU | 1 GB | 20 GB | 200 Mbps | 129k | Đặt gói |
| VPS NVMe 30Khởi nghiệp | 2 vCPU | 2 GB | 30 GB | 200 Mbps | 194k | Đặt gói |
| VPS NVMe 50 | 4 vCPU | 4 GB | 50 GB | 200 Mbps | 415k | Đặt gói |
| VPS NVMe 80Phổ biến | 6 vCPU | 6 GB | 80 GB | 300 Mbps | 649k | Đặt gói |
| VPS NVMe 160Nâng cao | 8 vCPU | 8 GB | 160 GB | 300 Mbps | 1.164k | Đặt gói |
| VPS NVMe 250Pro | 10 vCPU | 10 GB | 250 GB | 300 Mbps | 1.424k | Đặt gói |
| VPS NVMe 320Ultra | 12 vCPU | 12 GB | 320 GB | 400 Mbps | 1.814k | Đặt gói |
| VPS NVMe 480Enterprise | 12 vCPU | 16 GB | 480 GB | 400 Mbps | 2.074k | Đặt gói |
Giá đã áp dụng cho chu kỳ 36 tháng. Mọi gói đều gồm 1x IPv4 + 1x IPv6, ổ Enterprise U.2 NVMe RAID 10, đặt tại datacenter Việt Nam, backup hàng tuần và bàn giao trong 5 phút.
Những loại công việc thấy khác biệt rõ nhất khi chuyển sang nền tảng này.
Đọc ghi ngẫu nhiên nhiều, đúng điểm mạnh của NVMe. Truy vấn nặng và thao tác ghi đồng thời cải thiện thấy được ngay.
WordPress nhiều plugin, sàn thương mại điện tử, trang tin lượng truy cập lớn. Xung nhịp cao giúp thời gian tạo trang giảm rõ.
Docker, Kubernetes node, nhiều service chạy song song. Nhiều nhân giúp các container không tranh CPU của nhau.
Build, test, đóng gói image liên tục là công việc vừa nặng CPU vừa nặng ổ đĩa. Đây là nơi cả Platinum lẫn NVMe cùng phát huy.
Đánh chỉ mục và truy vấn cùng lúc, ghi log liên tục. Ổ nhanh giúp việc đánh chỉ mục không làm nghẽn truy vấn.
n8n, chatbot, agent tự động gọi API liên tục và ghi dữ liệu thường xuyên. Nền tảng ổn định quan trọng hơn cấu hình cao nhất thời.
Dùng thử thấy không hợp thì báo trong vòng 30 ngày, TND hoàn tiền. Không cần giải thích dài dòng.
Thanh toán xong là máy sẵn sàng, không phải chờ duyệt tay. Thông tin truy cập gửi ngay để bạn bắt đầu cài đặt.
Nhắn thẳng cho kỹ thuật, không qua hệ thống ticket nhiều tầng. Hỗ trợ chuyển dữ liệu từ nhà cung cấp cũ sang.
Cần thêm RAM, thêm ổ hay thêm nhân thì nâng tại chỗ. Không phải dựng lại máy chủ từ đầu.
Khác đúng một chỗ: cách lưu trữ. Cloud VPS dùng cụm Ceph, dữ liệu nhân bản qua nhiều máy chủ nên một máy hỏng thì máy ảo vẫn chạy tiếp, đổi lại lưu trữ đi qua mạng nên độ trễ cao hơn. Dòng VPS NVMe dùng ổ Enterprise U.2 gắn ngay trên máy chủ chạy RAID 10, cho độ trễ thấp nhất và IOPS cao nhất, đổi lại phụ thuộc một máy chủ và được bù bằng RAID 10 cộng backup hàng tuần. Chip, mạng, datacenter và giá của hai dòng như nhau.
Khi bạn đặt một gói thuộc dòng VPS NVMe, máy ảo được khởi tạo trên máy chủ dùng ổ Enterprise U.2 NVMe RAID 10, không phải trên cụm Ceph của dòng Cloud VPS. Bàn giao trong 5 phút.
Platinum là bậc cao nhất trong dòng Xeon Scalable của Intel, trên Gold, Silver và Bronze, có nhiều nhân và cache lớn hơn. Máy chủ TND dùng chip Platinum giữ xung nền 2.7GHz và turbo 3.7GHz. Nhiều VPS giá rẻ hiện vẫn chạy Xeon E5 đời cũ hoặc chip nhiều nhân nhưng xung chỉ khoảng 2.0GHz đến 2.2GHz. Với tác vụ đơn luồng như PHP hoặc một truy vấn MySQL, xung nhịp cao tạo khác biệt trực tiếp lên thời gian phản hồi. Cần thông số chi tiết hơn thì nhắn Zalo, kỹ thuật cung cấp theo từng trường hợp.
Tuỳ tác vụ. PHP xử lý mỗi request trên một nhân, mỗi truy vấn MySQL cũng chạy trên một luồng, và Redis vốn đơn luồng theo thiết kế. Với những thứ đó, xung nhịp quyết định trực tiếp thời gian phản hồi, thêm nhân không làm một truy vấn chạy nhanh hơn. Ngược lại, encode video hay chạy nhiều container song song thì số nhân mới là yếu tố chính. Chip Platinum mà TND dùng có cả hai: nhiều nhân nhưng vẫn giữ xung nền 2.7GHz và turbo 3.7GHz.
Với khối lượng công việc đơn luồng, chênh lệch xung phản ánh gần như trực tiếp vào thời gian xử lý. Từ 2.1GHz lên 2.7GHz là chênh khoảng 28 phần trăm, tức một trang PHP mất 400ms có thể xuống khoảng 310ms, chưa kể phần lợi thêm từ cache lớn hơn và kiến trúc mới hơn. Nhưng nếu truy vấn database chưa đánh chỉ mục đúng thì đổi chip cũng không cứu được, nên tối ưu truy vấn vẫn phải làm trước.
U.2 là chuẩn ổ NVMe dành cho máy chủ: tản nhiệt tốt hơn nên không bị tụt tốc khi chạy tải liên tục, định mức ghi mỗi ngày cao hơn nhiều lần, và thay nóng được khi hỏng. Ổ M.2 vốn thiết kế cho máy tính cá nhân, chạy tải server dài ngày sẽ nóng và giảm tốc.
Không. RAID 10 ghép hai cơ chế: chia dữ liệu ra nhiều ổ để tăng tốc độ và giữ một ổ gương để bảo toàn dữ liệu. Đây là cấu hình được chọn khi cần cả tốc độ lẫn an toàn. Khi một ổ trong dàn hỏng, dữ liệu vẫn còn trên ổ đôi và hệ thống tiếp tục chạy trong lúc kỹ thuật thay ổ.
Vẫn cần. RAID chỉ cứu được tình huống hỏng ổ cứng. Nó không cứu được khi bạn xoá nhầm dữ liệu, khi mã độc mã hoá file hay khi một bản cập nhật làm hỏng ứng dụng, vì các thao tác đó được ghi đồng thời lên cả ổ gương. Vì vậy TND chạy thêm backup tự động hàng tuần sang Proxmox Backup Server đặt trên hệ thống độc lập.
Hệ thống tự tạo bản sao theo lịch hàng tuần, lưu trên Proxmox Backup Server tách rời khỏi máy chủ đang chạy dịch vụ. Khi cần lấy lại dữ liệu, bạn nhắn kỹ thuật và TND khôi phục từ bản sao gần nhất, khôi phục được cả máy ảo hoặc chỉ phần dữ liệu bạn cần. Cần mốc khôi phục dày hơn một tuần thì báo trước để cấu hình lịch riêng.
Có, và khá rõ. NVMe kết nối qua PCIe thay vì SATA, giao thức thiết kế riêng cho bộ nhớ flash nên độ trễ thấp hơn và hàng đợi lệnh sâu hơn nhiều. Về IOPS đọc ngẫu nhiên, NVMe đạt 400k đến 700k trong khi SATA SSD khoảng 80k đến 100k. Trên máy ảo con số thực tế thấp hơn phần cứng trần nhưng khoảng cách vẫn giữ nguyên tỉ lệ.
Cách kiểm tra nhanh: chạy top hoặc iostat vào giờ cao điểm. Nếu I/O wait cao trong khi CPU và RAM vẫn còn dư thì ổ cứng đang là điểm nghẽn, chuyển sang NVMe sẽ thấy khác biệt ngay. Nếu ứng dụng nhẹ, lượng truy cập thấp và chưa nghẽn ở ổ đĩa thì gói tiết kiệm hơn là đủ. Nhắn Zalo mô tả hệ thống, TND tư vấn thẳng thay vì đẩy gói cao.
Bàn giao trong 5 phút. Sau khi thanh toán, hệ thống khởi tạo máy ảo tự động và gửi thông tin truy cập, bạn cài đặt được ngay mà không phải chờ duyệt tay. Nếu cần cấu hình riêng ngoài các gói có sẵn thì thời gian tuỳ theo yêu cầu, kỹ thuật báo trước khi chốt.
Máy chủ đặt tại datacenter ở Việt Nam. Ping từ mạng nội địa thường dưới 10ms, phù hợp cho khách hàng và người dùng cuối trong nước. Nếu đối tượng phục vụ chính ở nước ngoài, hãy trao đổi trước để TND tư vấn phương án đặt máy phù hợp hơn.
Không. Kỹ thuật TND hỗ trợ chuyển dữ liệu và cấu hình sang máy mới, chạy song song để kiểm tra trước rồi mới trỏ tên miền. Thời điểm chuyển hẹn vào lúc ít truy cập để hạn chế gián đoạn.
Được. Cần thêm RAM, dung lượng ổ hay số nhân thì nâng tại chỗ, không phải cài lại hệ điều hành. Phần chênh lệch tính theo thời gian còn lại của chu kỳ đang dùng.
Loạt bài kỹ thuật đăng đều mỗi ngày: đo IOPS đúng cách, đọc thông số CPU máy chủ, tối ưu WordPress trên NVMe và chọn gói theo nhu cầu thật.
Gói Claude Pro và Max không giới hạn số phiên chạy song song. Trần thật nằm ở đâu và vì sao chạy nhiều phiên lại chậm.
Kinh nghiệm thuê VPS NVMe: đọc bảng giá theo IOPS và latency thay vì GB, nhận diện 5 bẫy cấu hình như NVMe đội lốt, oversell, băng…
Phân biệt DDoS với quá tải thông thường, các lệnh kiểm tra nhanh, biện pháp giảm thiểu tức thời và cách phòng ngừa dài hạn cho VPS…
VPS NVMe là gì? VPS trên máy chủ dùng ổ NVMe, IOPS gấp 5-7 lần SSD SATA, độ trễ thấp hơn chục lần. Cách nhận biết NVMe thật, ai nê…
Tailscale Docker từng bước: image chính chủ, TS_AUTHKEY, pattern sidecar network_mode cho app chỉ truy cập qua tailnet, kèm docker…
Cài n8n trên VPS Ubuntu bằng Docker Compose: file cấu hình copy-paste, HTTPS, đổi SQLite sang Postgres khi lớn, backup và cập nhật…
Nhắn TND mô tả ứng dụng đang chạy và điểm đang chậm. Kỹ thuật xem giúp bạn có thật sự cần NVMe hay chỉ cần tối ưu lại, rồi mới đề xuất gói.